Rác thải khu vực nông thôn Hải Phòng – Thực trạng và một số giải pháp

 

 

Hải Phòng có một khu vực nông thôn rộng lớn với 8 huyện, 143 xã. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm khu vực nông thôn khang trang, hiện đại hơn. Tuy nhiên, đi kèm là đó là vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra.

Mỗi năm số lượng rác thải sinh hoạt của riêng khu vực nông thôn Hải Phòng lên tới gần 300 nghìn tấn, tỷ lệ rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn được xử lý đạt khoảng 85%; cụ thể:

Đến tháng 6/2016 trên địa bàn thành phố có 139/143 (97%) tổng số xã đã thành lập các tổ thu gom vận chuyển chất thải rắn hoặc đã ký hợp đồng thu gom, vận chuyển chất thải rắn với doanh nghiệp, công ty có chức năng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn. Còn 04 xã của huyện An Dương chưa tổ chức thu gom, vận chuyển do không có bãi xử lý chất thải (Hồng Thái, Đồng Thái, Quốc Tuấn, Đặng Cương). Cụ thể ở các huyện như sau:

STT

Địa phương

Rác thải nông thôn

Tổng lượng

(Tấn)

Đã xử lý

(Tấn)

Tỷ lệ (%)

1

An Lão 30.025 26.022 87

2

Kiến Thụy 34.025 30.000 85

3

Thủy Nguyên 64.350 57.000 85

4

Tiên Lãng 41.800 34.559 86

5

Vĩnh Bảo 51.500 41.600 85

6

Cát Hải 24.900 21.000 85

7

An Dương 26.200 21.000 84

8

Bạch Long vĩ 3.825 3100 85
  Tổng số: 276.625 234.281 84,69

 

Trong 5 năm (2011- 2015), ngân sách thành phố đã bố trí kinh phí thực hiện Chương trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn nông thôn 86.677 triệu đồng; thực hiện cải tạo, xây dựng 74 ga thu gom chất thải rắn; 03 bể chứa chất thải rắn; xây mới và cải tạo, nâng cấp 86 bãi chôn lấp chất thải rắn tạm thời cho các xã; hỗ trợ 1.252 xe đẩy tay, 300 thùng đựng rác sinh hoạt cho các xã; Đầu tư xây dựng 08 mô hình lò đốt rác sinh hoạt, các loại rác khác cho cụm xã tại các huyện: An Lão, Kiến Thụy (02 lò), Thủy Nguyên (02 lò), Tiên Lãng, Vĩnh Bảo (02 lò) bằng công nghệ BD-Anpha với công suất lò 500kg/giờ; Hỗ trợ cho công tác quản lý, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn nông thôn.

Việc vận chuyển và xử lý rác nông thôn của 143 xã trên địa bàn 8 huyện được thực hiện qua 3 hình thức:

– Chôn lấp tại bãi rác tạm của xã: có 92 xã, thị trấn chiếm 60% số xã. Qua khảo sát tình hình thực tế các xã này, lượng rác thải ra từ các hộ dân trong ngày khoảng 258 tấn, lượng thu gom được đạt khoảng 94,69% và đổ ra các bãi rác tạm ở xã, số rác này chủ yếu xử lý bằng phương pháp chôn lấp hoặc đốt thủ công tại bãi rác.

– Xử lý bằng lò đốt: rác của 5 xã được thu gom vận chuyển về lò đốt ở 4 xã, số xã có rác dùng lò đốt chiếm 0,3% số xã;

– Xử lý tập trung: rác của 52 xã, thị trấn được vận chuyển về các bãi tập trung của thành phố để xử lý, chiếm 37% số xã.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn Hải Phòng vẫn còn những hạn chế:

Việc thực hiện quy hoạch xử lý chất thải rắn còn chậm. Việc phân loại xử lý rác sinh hoạt ngay tại nguồn chưa hiệu quả. Ý thức phân loại rác và bảo vệ môi trường sinh hoạt, sinh sống của một bộ phận dân cư chưa cao.

Việc vận chuyển từ ga tập kết về khu xử lý còn gặp nhiều khó khăn và mất nhiều kinh phí; biện pháp xử lý rác nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng chủ yếu là chôn lấp nên tốn nhiều quỹ đất và không đảm bảo vệ sinh, ảnh hưởng đến môi trường và sản xuất nông nghiệp của các địa phương;

Việc thực hiện các nội dung chỉ đạo của Ủy ban nhân dân thành phố, hướng dẫn của các Sở, ngành tại các địa phương  còn chậm và chồng chéo. Nguồn ngân sách bố trí thực hiện Chương trình còn hạn chế và chậm phân khai, chưa đáp ứng được yêu cầu tiến độ và kế hoạch thực hiện.

Việc triển khai thực hiện các mô hình xử lý rác thải bằng lò đốt tại các địa phương trong còn chậm, không đảm bảo tiến độ, đặc biệt là không đáp ứng yêu cầu về công nghệ, quy trình vận hành, dẫn đến việc phải tạm dừng mở rộng, không phát huy hiệu quả mô hình.

Công tác quản lý chất thải, rác thải sinh hoạt tại một số địa phương còn  kiểm soát chưa tốt, đặc biệt là rác thải sinh hoạt từ hoạt động sinh sống, kinh doanh, dịch vụ, chăn nuôi ở cộng đồng, hộ gia đình, sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó công tác quản lý chất thải độc hại, rác thải xây dựng và rác thải y tế của các địa phương còn nhiều bất cập và yếu kém, chưa có biện pháp, giải pháp thống kê quản lý cụ thể để theo dõi, tổng hợp.

Để xử lý tốt vấn đề rác thải khu vực nông thôn Hải Phòng cần có những giải pháp đồng bộ. Cụ thể là:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng để tạo ra những thay đổi trong nhận thức và hành động của nhân dân trong công tác bảo vệ môi trường. Tuyên truyền, vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng và các nơi công cộng. Lồng ghép chương trình giáo dục vệ sinh môi trường nông thôn tại các trường học nhằm nâng cao ý thức bảo vệ, thực hiện vệ sinh môi trường cho học sinh. Phát động phong trào thi đua giữa các địa phương về giữ gìn vệ sinh môi trường, với những tiêu chí cụ thể, tổ chức sơ kết và tổng kết hàng năm.

Hai là, nghiên cứu, đề xuất, ứng dụng các giải pháp để xử lý rác thải nông thôn, xây dựng mô hình phân loại rác đầu nguồn, gắn liền quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trong đó định hướng xã hội hóa phát huy nguồn lực trong dân, kinh phí ngân sách mang tính hỗ trợ. Nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ trong sản xuất, ngành nghề nông thôn, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… gắn liền công tác bảo vệ môi trường. Nghiên cứu, đề xuất mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn nông thôn phù hợp với điều kiện thực tiễn nông thôn Hải Phòng; đề xuất công nghệ xử lý rác thải khâu cuối đảm bảo kinh tế, hiệu quả, phù hợp.

Ba là, nghiên cứu điều chỉnh quy định về mức phí và công tác quản lý, sử dụng phí về sinh nông thôn, đảm bảo phù hợp trong giai đoạn mới và thực tiễn địa phương. Có cơ chế đầu tư, hỗ trợ các địa phương xây dựng hệ thống khu xử lý chất thải của huyện theo quy hoạch đã được duyệt; xây dựng cơ chế hỗ trợ công tác vận chuyển và xử lý rác thải của các địa phương; chế độ đối với cán bộ quản lý cũng như người lao động thực hiện công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn nông thôn.

Bốn là, áp dụng các cơ chế chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và sử dụng đất theo quy định để khuyến khích huy động nguồn lực thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và thu gom, xử lý chất thải rắn nói riêng, nhằm xã hội hóa toàn bộ khâu thu gom, vạn chuyển, xử lý chất thải rắn ở nông thôn trên địa bàn thành phố./.

Nguyễn Chí Hiếu

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KH&CN Hải Phòng

Bài viết liên quan :

Bình Luận