Trung tâm Ban Mai – địa chỉ chuyên dạy trẻ tự kỷ tin cậy tại Hải Phòng

 

Cùng với xu hướng chung của thế giới, tỷ lệ trẻ em bị bệnh tự kỷ ở Việt Nam nói chung, ở Hải Phòng nói riêng trong thập kỷ gần đây gia tăng rõ rệt, trở thành một thách thức lớn với nhiều cơ quan chức năng. Theo số liệu ở khoa Nhi, Bệnh viện Nhi Trung ương, trước đây mỗi ngày chỉ có khoảng 5-6 trường hợp trẻ đến để kiểm tra, đo, khám về tự kỷ nhưng hiện nay đã tới khoảng 230 ca/ngày.

Do yêu cầu của một số gia đình có con mắc chứng tự kỷ, với chức năng của Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Hải Phòng, thấu hiểu được những khó khăn của trẻ và gia đình trẻ tự kỷ, năm 2010, Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Hải Phòng đã thành lập Trung tâm Ban Mai chuyên dạy trẻ tự kỷ ở Hải Phòng với mục tiêu: Tổ chức các hoạt động nuôi và dạy trẻ tự kỷ; Giúp các gia đình có bé tự kỷ bình tâm, kiên nhẫn lựa chọn chương trình can thiệp phù hợp có kết quả cho bé; Phối hợp cùng gia đình trẻ tự kỷ can thiệp sớm, giáo dục hòa nhập, nhằm hỗ trợ trẻ tự kỷ vượt qua những khó khăn, phát triển năng lực học tập và các kỹ năng tự lập cơ bản để bé sớm tới trường hòa nhập. Trung tâm nhận nuôi dạy chủ yếu các cháu từ 3 tuổi đến 6 tuổi; các lớp tiền tiểu học – chuẩn bị cho các cháu vào lớp 1.

Giám đốc Trung tâm là tiến sĩ tâm lý học, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Hải Phòng. Đội ngũ giáo viên gồm các cô đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng giáo dục mầm non, có kinh nghiệm giáo dục trẻ đặc biệt, không bình thường, khiếm khuyết về nhận thức. Các giáo viên này có đức tính kiên trì, nhẫn nại, điềm tĩnh, tận tâm, năng động, sáng tạo sẽ là người trực tiếp tham gia dạy các tiết cá nhân và tiết nhóm cho các bé. Bên cạnh đó, Trung tâm có đội ngũ cộng tác viên là các chuyên gia tâm lý giáo dục của Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Việt Nam, khoa Tâm lý giáo dục trường Đại học Hải Phòng và các tỉnh thành khác. Các chuyên gia này sẽ giúp sự đánh giá, sàng lọc, phát hiện khuyết tật, mức độ khuyết tật của từng trẻ và tư vấn cho cha mẹ và cùng với các giáo viên của Trung tâm vạch ra chương trình kế hoạch giáo dục cá nhân cho bé. Ngoài ra, các chuyên gia này còn có chương trình bồi dưỡng tập huấn cho giáo viên của Trung tâm và cha mẹ của bé về kiến thức, phương pháp, kỹ năng dạy và chăm sóc cho bé.

Hoạt động của Trung tâm coi trọng đảm bảo các nguyên tắc sau:

– Đảm bảo tính mục đích: Mọi hoạt động nuôi dạy trẻ được tiến hành một cách tránh gò ép, cần chăm sóc giáo dục trẻ một cách linh hoạt, giúp trẻ hoạt động một cách tích cực trong tâm trạng thoải mái, thương yêu, quý mến để phát triển hài hòa nhân cách.

– Đảm bảo tính toàn diện: Giúp trẻ phát triển toàn diện về các mặt: thể chất, tâm lý và xã hội, nhận thức, tình cảm và hành động. Các mặt phát triển phải luôn hòa quyện với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau.

– Kết hợp chặt chẽ việc nuôi và dạy trẻ. Trẻ tăng trưởng về thể lực được phát triển về trí lực. Hai quá trình này tuy có sự khác nhau nhưng có mối quan hệ phụ thuộc, tác động qua lại với nhau, không được coi nhẹ mặt nào.

– Kết hợp chăm sóc giáo dục nhóm với từng trẻ trong nhóm vì mỗi trẻ có những đặc điểm riêng, không trẻ nào giống trẻ nào, nên phải biết kết hợp giáo dục tập thể với sự giáo dục tiếp cận với cá biệt.

– Kết hợp giáo dục giữa Trung tâm với giáo dục gia đình: thời gian trẻ ở gia đình nhiều hơn, do vậy giữa gia đình và các cô giáo dạy ở Trung tâm cần thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp, các thao tác, tạo điều kiện hình thành thói quen và các phẩm chất, nhận thức cho trẻ tự kỷ.

– Kết hợp vai trò chủ đạo của giáo viên với vai trò tích cực, chủ động của trẻ để nâng cao hiệu quả giáo dục trẻ.

+ Giáo viên: thiết kế, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh đánh giá các hoạt động của trẻ. Tạo ra môi trường giáo dục như không gian, thời gian, đồ chơi, đồ dùng dạy học, góc hoạt động, quan hệ giữa giáo viên với trẻ, trẻ với trẻ.

+ Với bé cần có tính chủ động và tích cực tiếp nhận các tác động giáo dục. Trẻ chỉ phát triển tốt khi tự mình hoạt động, tự mình khám phá môi trường xung quanh, tự mình tham gia vào các mối quan hệ đa dạng.

– Tổ chức cuộc sống và hành động phù hợp với tuổi đời và tuổi phát triển của trẻ. Ở mỗi đứa trẻ do mức độ tật và dạng tật khác nhau nên trẻ có những khả năng tiến bộ khác nhau. Vì thế, giáo viên phải biết đoán trước và đáp ứng kịp thời những nhu cầu phát triển của trẻ bằng cách tổ chức cuộc sống và hoạt động phù hợp với bé trong tất cả các mặt từ chế độ sinh hoạt, các hoạt động hàng ngày, phương pháp hướng dẫn và mức độ yêu cầu.

– Đảm bảo tính hệ thống và liên tục, từ đơn giản đến phức tạp, giáo dục cái mới dựa trên cái cũ, cái đã được giáo dục cần được củng cố, mở rộng, từng bước nâng cao dần.

Các phương pháp can thiệp giáo dục được Trung tâm áp dụng bao gồm:

  1. Áp dụng các phương pháp giáo dục thông thường có sự điều chỉnh cho phù hợp với trẻ.

– Phương pháp dùng lời nói (trò chuyện, kể chuyện, giải thích): Dùng lời nói, lời kể diễn cảm, câu hỏi gợi mở được sử dụng phù hợp với các cử chỉ, điệu bộ nhằm khuyến khích trẻ tập nói và giao tiếp với đồ vật, với mọi người xung quanh. Tạo tình huống thích hợp để trẻ bộc lộ ý muốn, chia sẻ những cảm xúc với người khác bằng lời nói và hành động cụ thể.

– Phương pháp trực quan minh họa: Dùng các phương tiện trực quan (vật thể, đồ chơi, tranh ảnh, phim ảnh…) hành động mẫu (lời nói và cử chỉ) cho trẻ quan sát, nói và làm theo, rèn luyện sự nhạy cảm của các giác quan (nhìn, nghe, ngửi, sờ mó, nếm…).

– Phương pháp thực hành: Hành động thao tác với đồ vạt, đồ chơi, sử dụng các đồ vật, dụng cụ đơn giản phù hợp với mục đích và nội dung giáo dục. Trẻ cùng làm theo và thao tác với đồ vật như sờ mó, cầm nắm, lắc, mở, đóng, chồng lên, và phối hợp vận động với các giác quan.

+ Trò chơi: Sử dụng các yếu tố chơi, các trò chơi thích hợp để kích thích trẻ hoạt động, mở rộng hiểu biết về môi trường xung quanh và phát triển lời nói.

+ Luyện tập: Cho trẻ thực hiện lặp đi lặp lại nhiều lần các câu nói, động tác, hành vi, cử chỉ, điệu bộ phù hợp với nội dung, yêu cầu giáo dục và hứng thú của trẻ.

+ Phương pháp nêu tình huống có vấn đề: Đưa ra các tình huống cụ thể nhằm kích thích trẻ tìm tòi, suy nghĩ dựa trên vốn kinh nghiệm để giải quyết vấn đề đặt ra.

– Phương pháp đánh giá nêu gương: Trong hoạt động luôn khen, nêu gương, khích lệ trẻ làm được những việc tốt là chủ yếu, có thể chê khi cần nhưng phải nhẹ nhàng vì không quá lạm dụng.

– Phương pháp dùng tình cảm: Dùng cử chỉ âu yếm, vỗ về, vuốt ve gần gũi trẻ cùng với những điệu bộ, nét mặt, lời nói, để tạo cho trẻ những cảm xúc an toàn, tin cậy, thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, gắn bó, tiếp xúc với người thân và môi trường xung quanh. Khuyến khích và ủng hộ trẻ hoạt động khơi gợi niềm vui, tạo niềm vui, cổ vũ sự cố gắng của trẻ trong quá trình hoạt động.

  1. Áp dụng các phương pháp giáo dục chuyên biệt với mức độ tật của trẻ tự kỷ.

– Phương pháp ABA (Applied Behavior Analysis- phân tích hành vi ứng dụng): Đây là một trong số những phương pháp khá hữu hiệu để dạy trẻ tự kỷ. Do tác giả Ivar Lovaas và các đồng nghiệp đã nghiên cứu và phát triển vào những năm 1990. Những kỹ năng đặc biệt được dạy bằng cách chia các hành vi ra từng bước nhỏ, dạy một bước trong một thời điểm và củng cố bước đó. Nhiều năm qua, ABA được sử dụng để dạy dưới hình thức thiết lập mối quan hệ thân thiện, mở rộng ngôn ngữ tiếp nhận, sử dụng các câu nói có cấu trúc chặt chẽ, phát triển các kỹ năng bắt chước, kể cả bắt chước ngôn ngữ cơ thể, bắt chước khi chơi trò chơi, bắt chước lời nói… với những khả năng khác nhau và được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực: tự chăm sóc, lời nói và ngôn ngữ, ứng xử xã hội, …

– Phương pháp TEACCH (Treatment and Education Autistic Children Communication Handisap – Trị liệu và giáo dục trẻ tự kỷ và trẻ khó khăn về giao tiếp):          TEACCH là một cách tiếp cận theo suốt cuộc đời nhằm giúp trẻ tự kỉ có  một cuộc sống hữu ích trong cộng đồng. Cách tiếp cận này bắt đầu cung cấp các thông tin thị giác, cấu trúc và sự dự đoán vì người ta nhận ra là kênh học tập thuận lợi, nhất là thông qua thị giác. TEACCH là một chương trình đượcthiết kế trong đó người ta dạy các kĩ năng mới trong một tình huống một thầy một trò với giáo viên, các kĩ năng hiện đại được thực hành trong một tình huống độc lập, và các cơ hội tương tác xã hội diễn ra trong các hoạt động nhóm. Cấu trúc này nhằm mục đích tận dụng thế mạnh của trẻ tự kỷ, kĩ năng thị giác và sự kết nối với thói quen sinh hoạt của trẻ và dùng những thế mạnh này giúp giảm thiểu những khó khăn của trẻ. Điều này có tác dụng làm giảm sự cáu kỉnh và sợ hãi lo âu mà họ có thể có trong những trường hợp ít được cấu trúc hơn dẫn tới những vấn đề hành vi. Điều đó giúp họ phát triển hướng tới làm việc độc lập và phù hợp với công việc dựa trên tuổi và khả năng của họ.

– Phương pháp Hệ thống giao tiếp qua tranh ảnh PECS: PECS được viết tắt bởi: Picture Exchange Communication System – Hệ thống giao tiếp trao đổi hình ảnh. Hệ thống PECS  là một công cụ hết sức quan trọng trong việc can thiệp chứng tự kỷ. Trong PECS, ngôn ngữ lời nói được thay thế bằng việc sử dụng thể hình cho giao tiếp. Khi trẻ tự kỷ chưa có ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ bị hạn chế, hình ảnh sẽ giúp trẻ yêu cầu người khác và thực hiện yêu cầu của người khác. Hình ảnh lúc này là trung gian để chuyển tải thông tin diễn ra mối quan hệ tương tác giữa trẻ tự kỷ và người lớn. Theo các chuyên gia về phương pháp này thì tình trạng giao tiếp của trẻ khá lên rất nhiều khi sử dụng phương pháp PECS. Đây được coi là phương pháp hỗ trợ cho ngôn ngữ trong giao tiếp và góp phần hình thành ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ.

– Phương pháp hoạt động Tâm vận động Bernard Aucouturier: Tâm vận động là hoạt động của các giác quan, cơ bắp dưới sự điều khiển của não bộ. Tùy vào mức độ trưởng thành của não bộ mà nó chỉ đạo các hoạt động vận động cơ thể của con người. Đây là một phương pháp can thiệp thuộc lĩnh vực tâm lý và giáo dục, nhằm giúp trẻ phát triển một cách đồng bộ trong mọi lĩnh vực đời sống của con người. Tâm vận động là một phương pháp tác động qua vận động cơ thể giúp trẻ phát triển các yếu tố hình thành nhân cách của trẻ như yếu tố vận động cơ thể, tâm sinh lý, giao tiếp xã hội và nhận thức. Mục tiêu của phương pháp này là: “Tìm cách nâng đỡ, xúc tác tiến trình phát triển của trẻ trong đời sống tâm lý và tình cảm, bằng cách dựa vào những vận động cơ thể để tác động, hay sử dụng những năng lục của cơ thể để can thiệp giúp trẻ thay đổi các hành vi rối loạn bằng những hành vi có chủ đích”. Nói cách, tâm vận động là phát huy và kiện toàn mối quan hệ tương tác giữa con người và cơ thể mình, giúp kích thích những kĩ năng và ý thức xuyên qua các hoạt động tự ý thức được.

Ngoài bốn phương pháp nêu trên, trung tâm Ban Mai còn tham khảo các phương pháp: SI (hòa nhập cảm giác); OT (Occupation Therapy – hoạt động trị liệu); Social Story (Câu chuyện xã hội); Phương pháp “Trị liệu ngôn ngữ và lời nói”; Phương pháp hình thành; Phương pháp xâu chuỗi…

Gần đây nhất, đầu năm 2015, Trung tâm Ban Mai tham khảo tài liệu: “Từng bước nhỏ – Chương trình can thiệp sớm dành cho trẻ chậm phát triển và trẻ khuyết tật” của nhóm tác giả mà đại diện là Robin Treloar của trường Đại học Macquarie, Sydney, Australia. Đây là một chương trình can thiệp sớm đáp ứng được cả hai chức năng: giúp phát hiện những dấu hiệu trì hoãn trong phát triển của trẻ em từ 0 – 4 tuổi, đồng thời hướng dẫn thực hiện đánh giá và can thiệp sớm trực tiếp cho các em.

Với những cố gắng vượt bậc trong những năm qua, Trung tâm dạy trẻ tự kỷ Ban Mai (hiện ở tại số 1/310 đường Nguyễn Công Hoà, phường Niệm Nghĩa, quận Lê Chân, Hải Phòng) luôn tự hào được đánh giá là một trong những cơ sở can thiệp sớm, có đội ngũ chuyên gia nghiên cứu rút kinh nghiệm thực hành, có đội ngũ giáo viên tâm huyết, tận tâm với nghề và có trình độ chuyên môn tốt. Mặc dù Trung tâm Ban Mai đã đáp ứng được phần nào các nhu cầu của trẻ và gia đình có trẻ tự kỷ nhưng đó mới chỉ là các nhu cầu cơ bản đầu tiên và cần thiết nhất. Để nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động và hiệu quả của các chương trình can thiệp sớm cho trẻ tự kỷ đòi hỏi Trung tâm phải có sự đầu tư hơn nữa cả về mặt cơ sở vật chất, chuyên môn, đội ngũ. Tuy nhiên, đây cũng lại là khó khăn của Trung tâm khi chưa có được các chính sách rõ ràng, cũng như chưa nhận được sự quan tâm đầu tư thích đáng từ phía nhà nước và các tổ chức hữu quan. Với nguồn thu nhỏ chủ yếu từ đóng góp của các gia đình trẻ tự kỷ thì chưa phải là giải pháp tối ưu để tăng nguồn đầu tư.

Rất mong, các cơ quan chức năng của thành phố, đặc biệt là các Sở: Giáo dục và Đào tạo, Lao động – Thương binh và Xã hội, Y tế,…; các tổ chức xã hội, các hội từ thiện, các cá nhân  quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ và sẻ chia để Trung tâm dạy trẻ tự kỷ Ban Mai và Hội Khoa học Tâm lý giáo dục Hải Phòng có thể làm tốt chức năng và nhiệm vụ của mình, góp phần vì chất lượng thế hệ trẻ Việt Nam./.

Nguyễn Ngọc Khánh

PCT. Hội Khoa học Tâm lý Giáo dục Hải Phòng

Bài viết liên quan :

Bình Luận