Vingroup xây dựng tổ hợp sản xuất ô tô hiệu Vinfast tại Hải Phòng – Cơ hội và thách thức

 

Ngày 02/9/2017 tập đoàn Vingroup đã tổ chức lễ khởi công xây dựng tổ hợp sản xuất ô tô Vinfast tại Khu kinh tế Cát Hải  thành phố Hải Phòng. Dân số đông, thị trường tiêu thụ rộng lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thu nhập người dân không ngừng được cải thiện. Cùng với đó xu hướng ô tô hóa đang dần phổ cập. Đó là những điều kiện thuận lợi để phát triển thị trường ô tô ở Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những điều kiện thuận lợi đó, Vinfast cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức trong cuộc cạnh tranh khốc liệt và có thể nói là không cân sức với ô tô đến từ các nước như Thái Lan, Malaysia…khi các cam kết hội nhập đã đến hạn phải thực thi.

  1. Cơ hội

Từ sự chờ đợi và hy vọng của toàn thể nhân dân và cả chính quyền

Những ngày qua dư luận xã hội nhắc nhiều đến chuyện VinGroup của Phạm Nhật Vượng theo đuổi tham vọng sản xuất ô tô hiệu VinFast và đa số đều rất hào hứng và chờ đợi. Có lẽ tất cả đều xuất phát từ mong muốn ngành công nghiệp Việt Nam nói chung, ngành công nghiệp ô tô nói riêng phải tạo ra một bước nhảy vọt sau bao năm chỉ gia công, lắp ráp từ máy móc nhập khẩu.

“Thai nghén” từ những năm 90 từ thế kỷ trước, dù luôn được các bộ ngành kiên trì bảo hộ bằng hàng rào thuế quan suốt hơn 20 năm qua, vậy mà ngành sản xuất ô tô trong nước cũng không chịu lớn. Trong khi đó, ngành công nghiệp ô tô Thái Lan đóng góp 12% vào GDP; công nghiệp ô tô của Malaysia đóng góp khoảng 10% GDP với số lượng xe sản xuất khoảng 614.000 chiếc vào năm 2016. Và ngay cả người hàng xóm “nhỏ bé” Campuchia cũng cho ra đời xe hơi Angkor EV giá chỉ 5 nghìn USD/chiếc vào năm 2013.Theo lộ trình của Chiến lược phát triển ngành ô tô Việt Nam đến năm 2010, thì đối với loại xe dưới 9 chỗ ngồi, mục tiêu tỉ lệ nội địa hoá vào năm 2005 – tức 12 năm trước là 40% và năm 2010 là 60%. Thế nhưng đến giờ, thực tế mới chỉ đạt trong khoảng 7-10%. Trong khi đó tỉ lệ nội địa hoá của các nước ASEAN đã ở mức 60-70%, riêng Thái Lan thậm chí đã đạt 80%. Cả người dân và chính quyền đang khát khao về một nền công nghiệp ô tô tiên tiến, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra rầm rộ. Một nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đang hòa mình mạnh mẽ vào cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 thì nhất định nền công nghiệp không chỉ là những con ốc vít, mà phải là một chiếc xe hơi.

Nhưng trên tất cả, điều khiến cho mọi người chờ đợi và hy vọng về chiếc xe hơi của Việt Nam, là bởi họ mong mỏi một chiếc xe có giá bán phù hợp với giá trị thực của nó. Người dân Việt Nam đã phải mua xe với giá xe cao gấp 2 lần Thái Lan, gấp 3 lần Mĩ và cao nhất nhì thế giới. Một chiếc xe Camry 2.5 đời 2017 có giá từ nhà sản xuất là 26.000 USD. Sau khi cộng các khoản chi phí nhập khẩu về Việt Nam, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế VAT,… thì giá chiếc xe này đã nhảy lên đến 72.000 USD. Ô tô “made in Viet Nam” không thuế nhập khẩu, sẽ kéo giá xe ô tô về tiệm cận một xe máy tay ga hạng sang mà bất cứ ai cũng có thể sở hữu. Khi đó ô tô sẽ chính thức là một phương tiện đi lại phổ biến chứ không phải đồ trang sức hay tài sản mà chỉ có những người giàu có mới được quyền sở hữu.

Một thị trường rộng lớn với mức tăng trưởng cao

Các chuyên gia kinh tế cho rằng, một quốc gia dân số từ 50 triệu người trở lên phải phát triển ngành công nghiệp ô tô. Dân số Việt Nam hiện đã tới sấp xỉ 100 triệu dân, với mức tiêu thụ hơn 300 nghìn xe mỗi năm và tăng trưởng cao nhất thế giới (theo dự báo của BMI Research). Bộ Công thương cũng đưa ra dự báo, nhu cầu thị trường ô tô trong nướcđến năm 2020 đạt khoảng 450.000 – 500.000 xe; năm 2025 sẽ vào khoảng 800.000 – 900.000 xe/năm;năm 2030 sẽ lên đến 1,5-1,8 triệu xe/năm. Đó là yếu tố không thể thuận lợi hơn về thị trường tiêu thụ trong vòng hơn 10 năm tới. Đó là yếu tố đủ lớn để có thể đáp ứng được điều kiện thị trường cho một nền công nghiệp sản xuất ô tô mạnh. Và Vinfast,với công suất thiết kế giai đoạn 1 sẽ là 100-200 nghìn chiếc/năm và tới năm 2025 sẽ là 500 nghìn chiếc, là con chim đầu đàn trong những doanh nghiệp đang nhen nhóm lại ước mơ về ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.

Ô tô “made in Viet Nam” hơn cả một mặt hàng, nó là lời tuyên ngôn với thế giới về việc quốc gia đã vươn xa hơn “giấc mơ ốc vít”. Là tạo việc làm thu nhập cao cho hàng loạt lao động, thúc đẩy công nghiệp phụ trợ. Là sự kích thích phát triển hạ tầng dân sinh và đặt quy hoạch vào xu hướng hiện đại, khoa học hơn. Là đóng góp lớn vào tỷ trọng kinh tế, đơn cử như Thái Lan, công nghiệp ô tô chiếm đến 12% GDP. Là giữ lại cho đất nước được hàng chục tỷ đô la nhập khẩu ô tô mỗi năm. Suy cho cùng,muốn cạnh tranh thì phải phát triển, và mọi sự phát triển đều phải vì mục tiêu người dân được sử dụng những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất nhưng giá cả phải phù hợp nhất.  Bằng không ta sẽ để mặc những tập đoàn nước ngoài chiếm lĩnh thị phần, và thua trên chính sân nhà của mình.

2.Thách thức

Bắt đầu từ năm 2018, ô tô sản xuất ở khu vực ASEAN có tỉ lệ nội địa hoá từ 40% trở lên sẽ được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu ở mức 0%. Nghĩa là chỉ còn vài tháng nữa, công nghiệp ô tô của Việt Nam sẽ phải đối mặt với một cuộc cạnh tranh khốc liệt về giá, khi các cam kết hội nhập đã đến hạn phải thực thi. Cuộc cạnh tranh bắt đầu khi Vinfasf còn chưa đi vào sản xuất. Một cuộc cạnh tranh hoàn toàn không cân sức với ô tô đến từ các nước như Thái Lan, Malaysia, Indonesia. Khi mà Thái Lan đã có hơn 60 năm phát triển ngành công nghiệp ô tô;tỉ lệ nội địa hóa lên đến gần 80%, đóng góp 12% vào GDP.Còn Malaysia, công nghiệp ô tô cũng không chịu kém cạnh khi tỉ lệ nội địa hóa cũng vào khoảng 60-70% và đang đóng góp khoảng 10% GDP. Và ngành công nghiệp ô tô Indonesia cũng đang có những bước phát triển ngoạn mục, chiến tỷ trọng không nhỏ trong tổng lượng ô tô nhập khẩu của Việt Nam những năm gần đây.

Tuy nhiên ngành công nghiệp ô tô là một bài toán gồm rất nhiều yếu tố trong đó yếu tố về vốn và công nghệ là hai yếu tố quyết định sự thành bại của ngành công nghiệp này. Đầu tiên là yếu tố về công nghệ, để cho ra đời một chiếc xe hoàn thiện cần tới khoảng 30.000 chi tiết. Do đó để phát triển ngành công nghiệp ô tô thì cùng lúc phải phát triển công nghiệp phụ trợ. Nút thắt của vấn đề cũng chính là từ đây, làm sao giải được bài toán phát triển công nghiệp phụ trợ trong khi thuế nhập khẩu linh kiện bằng 0% vào đầu năm 2018. Đến đây cần sự ra tay giúp đỡ của chính phủ bằng cách sử dụng công cụ thuế thu nhập đặc biệt. Theo đó, tất cả những xe sản xuất trong nước có tỉ lệ nội địa hoá càng cao thì thuế tiêu thụ đặc biệt phải được hưởng mức càng thấp. Giải quyết được nút thắt này xe sản xuất trong nước sẽ có lợi thế cạnh tranh vượt trội về giá và người tiêu dùng sẽ được mua những chiếc xe ô tô có giá sát với giá trị thực hơn và lộ trình tăng dần nội địa hóa ô tô cũng sẽ được thúc đẩy thực hiện. Vì nếu không đạt được tỉ lệ nội địa hoá, doanh nghiệp không những không thể cạnh tranh vì bị áp thuế tiêu thụ đặc biệt cao, mà thậm chí còn phải dừng thụ hưởng tất cả các chính sách hỗ trợ khác. Làm được điều này doanh nghiệp sản xuất ô tô mới tiêu thụ linh kiện trong nước, và khi đã có đầu ra cho sản phẩm công nghiệp phụ trợ thì rất nhiều doanh nghiệp sẽ tự tìm đến để phát triển loại hình công nghiệp này. Cái luẩn quẩn của ngành công nghiệp ô tô, lộ trình nội địa hóa và phát triển công nghiệp phụ trợ suốt bao năm qua sẽ được tháo gỡ.

Yếu tố về vốn cũng không thể bỏ qua trong việc quyết định thành bại của một doanh nghiệp nói chung và sản xuất ô tô nói riêng. Ở Việt Nam, Vinaxuki là doanh nghiệp đi tiên phong trong việc tham gia sản xuất ô tô, và là đơn vị duy nhất tới nay sản xuất chiếc xe 4 chỗ “Made in Viet Nam”. Doanh nghiệp đã bỏ ra 250 tỷ xây nhà máy rộng 12ha tại Mê Linh (Hà Nội), thuê 10 chuyên gia Nhật nghiên cứu trong suốt bốn năm. Cuối cùng vì thiếu vốn nên hoạt động sản xuất teo tóp dần, kết quả là 200 khung xe 4 chỗ trở thành sắt vụn, khuôn viên nhà máy cỏ mọc um tùm và trở thành bãi chăn dê, thả lợn. Ngay cả General Motor, là một tập đoàn khổng lồ trong sản xuất ô tô của Mĩ cũng tuyên bố phá sản vào năm 2009 vì cuộc khủng hoảng kinh tế bất chấp chính phủ Mĩ đã bơm  hàng trăm tỷ USD để giải cứu. Từ hai thất bại của những doanh nghiệp kể trên đã cho thấy sự khắc nghiệt của thị trường mà chỉ những doanh nghiệp với tiềm lực tài chính vững mạnh mới quyết tồn tại được. Vingroup với tiềm lực tài chính khổng lồ (ở điểm này cá nhân tôi thấy Vingroup mang dáng dấp một Chaebol Việt Nam, giống như cách Samsung ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống Hàn Quốc) và khoản vốn hợp tác lên đến 800 triệu đô từ Credit Suisse AG cộng với  nhãn quan nhạy bén của một người có tầm nhìn như Phạm Nhật Vượng khi bước chân vào công nghiệp sản xuất ô tô xứng đáng để đặt niềm tin. Và suy cho cùng như đã nói ở trên chỉ có những nhà đầu tư lớn mới đủ tầm đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và phát triển một cách chỉn chu và bài bản, mới đồng hành lâu dài cùng Chính phủ để thiết lập một nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại.

  1. Tạm kết

Vẫn còn nhiều hồ nghi và những dấu chấm hỏi xung quanhtham vọng sản xuất ô tô hiệu VinFast của Vingroup. Nhưng những hoài nghi đến từ định kiếu như dư luận đã dành cho flappy bird của Nguyễn Hà Đông thì không nên. Chúng ta thường than trời vì doanh nghiệp nhà nước thua lỗ nghìn tỉ, những dự án rót vốn từ ngân sách đắp chiếu bao năm, cả việc doanh nghiệp nước ngoài nhận được quá nhiều ưu ái trong quá trình đầu tư…; vậy tại sao ta lại không ủng hộ một doanh nghiệp tư nhân Việt? Mọi động thái mang lại ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế đều đáng được ủng hộ như kiểu người Hàn Quốc đã ủng hộ Sam Sung hay Huyndai. Còn trong quá trình dự án hoạt động, ta vẫn có thể giám sát và phản biện. Nhưng đừng dập tắt tham vọng của ai đó từ trong trứng nước, nhất là trong bối cảnh hiện nay, chọn một doanh nhân cho sự tiên phong về công nghiệp ô tô thì quá khó để có ai hơn được Phạm Nhật Vượng. Và như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc từng phát biểu tại lễ khởi công: “ô tô không chỉ là ô tô, mà đó còn là một thương hiệu quốc gia”. Đó là mong ước, là khát khao về một Việt Nam phát triển, mà ở đó người Việt có thể làm ra những sản phẩm Việt Nam, mang thương hiệu Việt Nam. Với tiềm lực tài chính và tham vọng của mình, hy vọng Vingroup cũng thành công như cách họ đã thành công với bất động sản, bán lẻ và nông nghiệp trong những năm qua. Và nếu như vậy thì ngày mỗi chúng ta sở hữu một chiếc xe hơi giá rẻ với chất lượng cao đang ở tương lai rất gần./.

Vũ Đắc Việt

Phòng Nghiên cứu Văn hóa – Xã hội

Trung tâm KHXH&NV thành phố Hải Phòng

Bài viết liên quan :

Bình Luận